Trang

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010

Nguồn sụt áp

Nếu: Nguồn kiểm tra rời đã chạy OK, đo áp đầy đủ 5V, 12V, 3.3V… đều OK nhưng khi cắm vào main thì không boot hoặc lên rồi tắt. Đo áp khi cắm vô main thì thấy thiếu —> Nguồn bị sụt áp.
Phân tích nguyên nhân của hiện tượng trên.

Với hiện tượng trên quạt nguồn đã quay bình thường, chứng tỏ các mạch của nguồn đã hoạt động tốt, IC dao động tốt, mạch bảo không hoạt động nên không sảy ra quá dòng hay quá áp.
- Điện áp 300V DC đầu vào đã có, các linh kiện đầu vào như cầu chì, cầu đi ốt, trở nhiệt vẫn tốt

- Các đèn công suất không bị chập (kể cả nguồn cấp trước và nguồn chính)
- Nguồn cấp trước đã hoạt động tốt (vì đã có 5V STB)
- IC dao động của nguồn chính đã hoạt động và cho dao động ra điều khiển mạch công suất
- Khi chập chân P.ON xuống mass thấy nguồn có hoạt động, lệnh P.ON có tác dụng.
Nguyên nhân của hiện tượng trên là do những hư hỏng sau:
- Các tụ lọc nguồn chính bị hỏng làm cho điện áp đầu vào giảm xuống.
- Các điện trở đấu song song với các tụ lọc nguồn chính bị đứt làm cho điện áp điểm giữa các tụ bị lệch
- Có một đèn công suất không hoạt động do bị bong mối hàn hoặc đèn đứt CE
- Có một đèn đảo pha bị hỏng hoặc bị bong mối hàn
- IC dao động ra bị mất một vế, chỉ còn dao động ra ở một vế.
- Các tụ lọc đầu ra bị khô, bị phồng.
Các bước kiểm tra và sửa chữa.
* Bạn đo điện áp trên hai tụ lọc nguồn chính, mỗi tụ cần phải có đủ 150V
 Đo điện áp trên hai tụ lọc nguồn chính mỗi tụ phải có 150V

 Nếu điện áp trên hai tụ bị lệch nhưng tổng điện áp trên hai tụ vẫn đủ 300V là do bị đứt điện trở đấu song song với các tụ
 Nếu tổng điện áp trên hai tụ nhỏ hơn 300V là các tụ bị hỏng
Chú ý - Các trường hợp hỏng tụ hoặc điện trở đấu song song với các tụ lọc nguồn làm cho điện áp điểm giữa các tụ bị lệch còn là nguyên nhân làm cho các đèn công suất của nguồn chính bị chập
* Kiểm tra và hàn lại các đèn công suất của nguồn chính
Nếu một đèn công suất không hoạt động, nguồn vẫn ra điện áp nhưng sẽ không hoạt động được khi có tải
* Kiểm tra chế độ điện áp của các đèn đảo pha, hai đèn đảo pha phải có các điện áp như nhau

 Kiểm tra chế độ điện áp của các đèn đảo pha, hai đèn đảo pha phải có các điện áp như nhau, khi ở chế độ chờ thì các đèn có điện áp như sơ đồ trên

Kiểm tra chế độ điện áp của các đèn đảo pha, hai đèn đảo pha phải có các điện áp như nhau, khi ở chế độ đang hoạt động thì các đèn có điện áp như sơ đồ trên
* Chú ý - Nếu chế độ điện áp của hai đèn đảo pha khác nhau trong khi kiểm tra các đèn vẫn tốt là bị hỏng một vế của IC dao động, trường hợp này nguồn vẫn chạy nhưng không hoạt động được khi có tải.


Kiểm tra và thay thế các tụ lọc đầu ra có hiện tượng bị phồng, bị khô.

Cách kiểm tra nguồn có hoạt động không

Kiểm tra xem bộ nguồn có hoạt động hay không ?
  • Chập chân lệnh P.ON xuống Mass (dùng sợi thiếc đấu dây mầu xanh lá cây vào một dây mầu đen)
  • Cấp điện cho bộ nguồn và quan sát quạt
  • Nếu quạt quay tít là nguồn đã hoạt động tốt
  •  Trường hợp sau đây là nguồn đã hoạt động
Khi cắm điện và chập chân P.ON xuống Mass thấy quạt quay tít chứng tỏ nguồn hoạt động tốt
  • Trường hợp sau đây là nguồn bị chập các đi ốt chỉnh lưu điện áp ra, quạt nguồn chỉ hơi lắc lư khi cấp điện và chập chân P.ON xuống mass
 Khi cắm điện và chập chân P.ON xuống Mass thấy quạt hơi lắc lư là do nguồn bị chập phụ tải
  •  Trường hợp sau đây là nguồn bị mất hồi tiếp nên điện áp ra tăng cao, mạch bảo vệ hoạt động và ngắt điện áp ra ngay khi nó mới hoạt động.
 Khi cắm điện và chập chân P.ON xuống Mass thấy quạt nguồn quay vài vòng rồi tắt đây là hiện tượng nguồn bị hỏng mạch hồi tiếp ổn định điện áp ra

BAD SECTOR: bản chất, nguyên nhân và phòng tránh


Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, ổ đĩa cứng(HardDiskDrive=HDD) trong các hệ thống máy vi tính ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Chúng có thể chứa đựng tất cả các tủ hóa đơn, giấy tờ, chứng từ quan trọng của các doanh nghiệp, các xấp ảnh, các chồng đĩa phim ảnh giải trí riêng tư và ngay cả các cơ sở dữ liệu lớn cần sự truy cập không có giờ phút ngừng nghỉ của các máy chủ…Tuy nhiên, bất kể hệ thống mà chúng ta đang sử dụng là máy chủ, máy tính cá nhân hay máy tính xách tay với những loại ổ đĩa cứng tốt nhất được lắp bên trong, có lúc, chúng ta vẫn phải đối mặt với những sự cố hư hỏng. Các biểu hiện của những sự cố đó rất da dạng nhưng chúng ta thường gặp là: máy tính khởi động và kết thúc với màn hình xanh kèm theo thông báo lỗi “Physical memory dump…”, việc copy một file nhỏ nào đó diễn ra rất chậm rồi không thành công, việc cài đặt hệ điều hành không thực hiện được…Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng này và một trong số đó là BAD SECTOR.
Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng nhau khám phá nguồn gốc của lỗi, cách phòng tránh và phương án xử lý. Vấn đề được đề cập trong bài viết này sẽ liên quan tới nhiều thuật ngữ và khái niệm khác nhau của phần cứng máy vi tính tuy nhiên, chúng ta sẽ bỏ qua hoặc xem xét một cách sơ lược mọi thứ để đi sâu vào vấn đề chính: BAD SECTOR.


1. Dẫn nhập:
Trước hết, chúng ta hãy cùng xem xét vấn đề nguồn gốc của sector. Cấu trúc vật lý của ổ đĩa cứng thông thường sẽ gồm 03 thành phần:

· Platter(đĩa hình tròn): nơi lưu trữ firmware-phần điều khiển cấp thấp của HDD và dữ liệu.


· Bộ đọc/ghi(Actuator): bộ phận truyền tải thông tin.


· Bảng mạch điều khiển điện tử(PrintedCircuitBoard=PCB): thành phần chứa đựng các cổng giao tiếp và phần điều khiển cấp cao của HDD.



Mỗi platter của ổ cứng thường có 03 lớp: lớp nền tảng thường được chế tạo bằng hợp kim nhôm hoặc thủy tinh và có 02 bề mặt; lớp từ tính được phủ trên cả 02 bề mặt của lớp nền tảng và được cấu tạo từ các phần tử có thể nhiễm từ tính; lớp bảo vệ được phủ bên ngoài cùng cả 02 bề mặt. Tuân theo quy chuẩn chung về sản xuất HDD nên mỗi sản phẩm xuất xưởng, trên bề mặt platter đều có khuôn dạng lưu trữ là các vòng tròn đồng tâm mà chúng ta thường biết đến với tên gọi track hay cylinder. Các cylinders được chia cắt bởi các đường thẳng chạy từ tâm ra biên, chúng tạo nên các vùng lưu trữ data mà chúng ta vẫn quen nghe tên: sector.


Để đọc/ghi dữ liệu lên platter, HDD sử dụng bộ đọc/ghi (Actuator). Cấu tạo chung của Actuator gồm có: bộ chuyển động, bộ khung đầu đọc, mạch điều khiển đọc ghi chung và đầu đọc từ tính(magnetic head). Trong quá trình đọc/ghi, đầu đọc treo lơ lửng phía trên, cách bề mặt platter vài microns. Áp lực không khí sinh ra trong khi platter quay với tốc độ cao đã góp phần tạo ra khoảng cách an toàn này, giúp bảo vệ an toàn head và bề mặt platter.


Để đọc dữ liệu nào đó trên HDD, computer ra lệnh yêu cầu đọc data từ một sector cụ thể nằm trên ổ đĩa cứng với tham số chỉ định là một số nguyên dương. Bảng mạch điều khiển của ổ đĩa cứng khi tiếp nhận lệnh từ computer sẽ giải mã thông tin, định nghĩa bề mặt của platter có chứa đựng sector cần đọc, định nghĩa head của bề mặt đó, dịch chuyển head đến đúng vị trí của cylinder có chứa sector cần đọc và đọc dữ liệu từ tính tại đó. Tiếp theo, dữ liệu đó sẽ được chuyển về mạch đọc/ghi của bộ đọc ghi rồi dịch dữ liệu đó sang dạng bits và gửi các dữ liệu dạng bits đó về computer. Tiến trình ghi dữ liệu lên HDD cũng tương tự như tiến trình đọc ngoại trừ chút ít khác biệt: computer gửi lệnh ghi kèm theo 512 bytes dữ liệu cần ghi và HDD sẽ gửi trả lại kết quả của việc ghi dữ liệu. Đây là tính siêu đơn giản của phương án này, computer không cần biết bất cứ điều gì liên quan đến HDD ngoại trừ thông số về tổng số sector chứa đựng trong nó. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lỗi mà đôi khi chúng ta gặp phải: ổ đĩa cứng có dectect trong BIOS, trong DOS nhưng sau đó hệ thống treo cứng, không khởi động được; hệ thống nhận diện được tên nhưng dung lượng báo sai hoặc sai tên; khi ra lệnh đọc ghi một file nào đó, hệ thống báo lỗi hoặc treo máy…


2. Nguyên nhân:

Đến đây, chắc hẳn mọi người chúng ta đều có cùng một câu hỏi: “Nguyên nhân nào đã gây ra bad sector của ổ đĩa cứng?”. Câu trả lời chính xác là có 7 nguyên nhân đã gây ra lỗi bad sector. Ba nguyên nhân đầu là do lỗi trong quá trình sản xuất, hai nguyên nhân tiếp theo là do người sử dụng và hai nguyên nhân cuối cùng là do lỗi logical. Duy nhất chỉ có hai nguyên nhân cuối là có thể khắc phục. Các nguyên nhân gây lỗi bad sector:

· 1 hole (hố) tạo ra do lỗi trong quá trình phủ lớp từ tính lên bề mặt platter.


· Sự liên kết yếu kém giữa lớp từ tính và lớp nền platter tại một vị trí tạo ra 1 hole.


· 1 hole được tạo ra trên bề mặt nền tảng của platter gây ra bởi thời gian.


· Lỗi gây ra bởi chuyển động cơ học của Actuator hoặc do người dùng gây va đập dẫn đến head bị va vào bề mặt platter.


· Theo nghiên cứu của HDDLABVN.COM, chất bôi trơn bên trong motor, do nhiệt độ cao của môi trường đã bốc hơi thoát ra ngoài, gặp nhiệt độ thấp hơn nên đông cứng thành hạt vật chất, va đập và phá hoại bề mặt platter.


· Nhiệt độ cao của môi trường sử dụng computer gây nên sự thoái hoá công năng của bề mặt từ tính.


· Lỗi về điện và/hoặc reset xảy ra trong tiến trình đọc/ghi data.



Trong quá trình sử dụng computer, chúng ta thường hay gặp thông báo lỗi dạng: “Can not copy file(s) or folder(s), ECC failure when reading sector xxxxxx”…ECC (“error correction [or correcting] code" or "error checking and correcting”) được sử dụng để kiểm tra và sửa lỗi trong quá trình đọc và truyền dữ liệu. ECC được sử dụng với các phương tiện lưu trữ (media storage) như RAM, HDD…Vậy ECC hoạt động như thế nào? Chúng ta đều biết, mỗi đơn vị data (or word) được lưu trữ dù là tạm thời trong RAM hay lâu dài trên HDD, chúng đều phải được “đính” kèm các thông tin quan trọng. Gần giống như một “thẻ kho”, mỗi thông tin này sẽ cho biết độ dài liên tục của bits dữ liệu có trong mỗi đơn vị data. Cứ mỗi 64 bits của một đơn vị data sẽ gắn kèm 7 bits mở rộng để lưu trữ ECC. Khi có một lệnh yêu cầu đọc data tại một vị trí lưu trữ 64 bits đó, code đã lưu trữ trong 7 bits mở rộng sẽ được đọc và đưa vào vế trái của lệnh so sánh. Vế phải sẽ là kết quả của một tiến trình: thông tin về độ dài của 64 bits sẽ được tính toán và trả về kết quả theo cùng một phương pháp như đã tạo ra code đã lưu trữ, tiếp đó sẽ ghi kết quả vào vị trí so sánh. Nếu kết quả so sánh khớp nhau, tiến trình kiểm tra lỗi kết thúc, data sẽ được truyền đi theo yêu cầu của lệnh. Nếu kết quả so sánh không khớp nhau, một hay nhiều bits bị thiếu hay lỗi sẽ được sửa hoặc thêm vào cho đến khi mọi thông tin đều khớp và tiến trình ECC kết thúc, data sẽ được truyền đi theo lệnh đọc. Chúng ta thấy ở đây có một vấn đề: một việc “sửa” đã được tạo ra, vậy thì nó có gây sai lệch các thông tin nguyên bản đã lưu trữ? Liệu các thông tin về tài chính, các tài liệu sống còn của doanh nghiệp chúng ta có bị mất đi hay sai lệch sau việc sửa chữa này? Câu trả lời sau đây sẽ khiến chúng ta an tâm: không có sự thay đổi gì với 64 bits của mỗi đơn vị data đã lưu trữ, tất cả dữ liệu của chúng ta vẫn nằm trên vùng từ tính đã lưu trữ nó. Việc sửa chữa chỉ xảy ra với 07 bits mở rộng có chứa code, ECC chỉ cố gắng giúp cho tiến trình thực hiện lệnh đọc được thực thi mà thôi. Các dữ liệu thuộc về 64 bits của đơn vị dữ liệu vẫn còn trên phương tiện lưu trữ chỉ có điều, nếu không có chuyên môn và thiết bị chuyên dụng, chúng ta không thể nào lấy chúng ra được. Đây chính là một trong những lý do mà HDDLABVN.COM được thành lập và tồn tại: giúp mọi người, mọi doanh nghiệp lấy lại dữ liệu, cứu lại các thương vụ. Có vài nguyên nhân gây ra lỗi với ECC và bad sector là một trong số đó.


Lỗi bad sector, xét về mặt vật lý là không thể sửa chữa (can not repaired). Đôi khi, chúng ta gặp một số quảng cáo như: “tẩy, cắt, sửa…bad sector”, đó là sự quảng cáo sai sự thật, thiếu chuyên môn. Thật vậy, chúng ta không thể có cách nào lấp đầy các “hố”(hole) được tạo ra bởi quá trình sản xuất hay do sự va đập trong sử dụng; chúng ta cũng không thể nào khôi phục được khả năng từ tính tại một điểm nào đó trên bề mặt platter đã bị suy yếu sau một thời gian sử dụng…Tuy nhiên, chúng ta có thể khắc phục lỗi bad sector bằng cách ra lệnh cho hệ thống không sử dụng chúng. HDDLABVN.COM đã nhận được nhiều thư của các bạn hỏi về vấn đề có hay không cái gọi là “sector dự trữ trong HDD?”. Câu trả lời là: về mặt kỹ thuật, không hề có khái niệm đó, các sector trên các phương tiện lưu trữ như HDD không hề giống như các bài viết thiếu chuyên môn trên mạng cũng như báo, tạp chí về vấn đề “thay thế” bad sector bằng một “sector dự trữ”. Với trí tưởng tượng của mình, những người viết các thông tin sai lệch đó đã cho rằng các sector sẽ “giống như” những ngăn kéo của một cái tủ và bằng một cách nào đó, họ sẽ “rút” cái hỏng ra và thay thế bằng cái “tốt” đã được “dự trữ ở đâu đó” trong miền lưu trữ của thiết bị. Về mặt kỹ thuật, chúng ta có thể cùng xem xét một tiến trình chung cho việc khắc phục lỗi bad sector như sau: Khi một sector bị đánh dấu là bad, hệ thống sẽ không sử dụng nó cho mục đích đọc/ghi dữ liệu nữa và tổng dung lượng của ổ đĩa cứng sẽ bị giảm đi một lượng bằng với lượng mà một sector chiếm dụng trên không gian nhớ của thiết bị lưu trữ. Khi gặp hiện tượng bad sector, chúng ta nên sao lưu các dữ liệu quan trọng bởi chúng có thể sẽ nằm ngoài khả năng sử dụng của chúng ta. Nếu các bad sector hiện ra quá đột ngột mà ta không thể kịp sao lưu thì tốt hơn hết nên gửi phương tiện lưu trữ của mình đến những nơi chuyên nghiệp như HDDLABVN.COM, tránh tự làm vì có thể mất đi cơ hội lấy lại các dữ liệu quan trọng. Còn nếu các dữ liệu không quan trọng, hoặc giả dụ như bạn muốn tự làm để có thể tiếp tục sử dụng một HDD đã bị lỗi bad sector thì sao? Các biện pháp được mô tả dưới đây sẽ phần nào giúp chúng ta đạt được mục đích của mình.


3. Các biện pháp phòng tránh và khắc phục lỗi BAD SECTOR:

· Các biện pháp phòng tránh bad sector: Để hạn chế tối đa bad sector chúng ta nên lưu ý về vấn đề tản nhiệt cho các thiết bị lưu trữ như HDD. Đất nước chúng ta nằm trong một miền địa lý với khí hậu nóng ẩm và đó là một trong những nguyên nhân gây ra bad sector. Vấn đề điện nguồn cũng nên được lưu ý vì điện lưới sinh hoạt của chúng ta thường xuyên tăng-giảm hay mất đột ngột cộng với việc các thiết bị cung cấp điện nguồn cho computer như ổ cắm điện, phíc cắm điện…thiếu an toàn cũng sẽ rất dễ gây lỗi. Nên sử dụng các thiết bị lưu trữ của chính hãng và dùng kèm theo computer một bộ cung cấp nguồn ổn định, ví dụ như dùng UPS online. Tránh sử dụng các thiết bị ổn áp cơ học, chỉ có giá trị về mặt lý thuyết hoặc giá trị rất nhỏ cho việc sử dụng computer.

· Các biện pháp khắc phục lỗi bad sector: Chúng ta có thể sử dụng chính các công cụ miễn phí có trong hệ điều hành đã cài đặt sẵn. Với Windows XP chúng ta có thể làm như sau: chạy chương trình My Computer, click vào My Computer trong khung bên trái màn hình. Khung bên phải sẽ liệt kê các ổ đĩa có trong hệ thống, click chuột phải vào tên ổ đĩa muốn khắc phục lỗi bad sectoràchọn Properties. Trên màn hình sẽ hiển thị khung Properties của ổ đĩa, click chuột vào tab Toolsàtrong khung Error-Checkingàclick Check Now…; Với các bạn thích sử dụng dòng lệnh, chúng ta làm như sau: bấm tổ hợp phím Windows+R để gọi lệnh thực thi RUN. Trong khung Open, gõ CMD và bấm Enter. Trong khung cửa sổ có dấu nhắc hiện ra, gõ chữ cái đại diện tên ổ đĩa có bad sector kèm theo dấu hai chấm, (ví dụ như D:) và bấm phím Enter. Tại dấu nhắc, gõ lệnh CHKDSK và bấm Enter để bắt đầu tiến trình kiểm tra bad sector; Chúng ta cũng có thể sử dụng các chương trình tiện ích của hãng khác như Norton Disk Doctor, HDDRegenerator…để đánh dấu không sử dụng các bad sector.4. Các bad sector được khắc phục như thế nào tại HDDLABVN.COM:

Như chúng ta đều biết, firmware là rất quan trọng đối với mỗi HDD, nó quyết định hoạt động quan trọng của ổ đĩa cứng: đọc và ghi. (Các bạn có thể tìm đọc thêm thông tin về firmware của HDD tại địa chỉ website: http://www.hddlabvn.com/new/content/view/9/32/ ) Công nghệ HDD sử dụng nhiều modules để tạo nên firmware điều khiển các hoạt động căn bản cấp thấp của ổ đĩa cứng. Một số modules được sử dụng để điều khiển sự dịch chuyển đầu đọc/ghi, một số khác sẽ giúp chúng ta khắc phục các bad sector trong đó quan trọng nhất là 2 modules: P-List(Primary List) và G-List(General List). Mọi HDD đều có bad sector ngay từ khi xuất xưởng và P-List làm nhiệm vụ kiểm soát, ngăn không cho hệ thống sử dụng chúng. Nhà sản xuất sử dụng các phần cứng và phần mềm riêng để đưa các bad sector vào P-List, người dùng không thể can thiệp vào đây. Với các phần mềm tiện ích miễn phí và có phí, người dùng có thể đưa các bad sector vào G-List và như vậy là chúng ta đã an toàn, hệ thống sẽ không đọc/ghi vào sector đó nữa. Tuy nhiên, khi P-List và G-List bị lỗi, hỏng các bad sector không được kiểm soát và sự khó chịu không mong đợi đã xảy đến: “Mất dữ liệu”. Đây là một trong những lý do cho chúng ta thấy không hề có cái gọi là “cắt” hay “thay thế” bad sector

Ghost Win XP trên nhiều cấu hình

Trước đây khá lâu, có bài báo bàn về ghost XP cho nhiều máy có cấu hình khác nhau. Bài ấy khá hay do có nhiều bạn đọc quan tâm nhưng lại ít có điều kiện thí nghiệm lại ở nhiều máy khác nhau nên đã có quá ít phản hồi về đúng, sai của bài báo đó.
Nay vấn đề hâm nóng lại do có tác giả đã làm GhostXP mini 250MB, khi restore lại khá tốt không bị xung đột ngay. Nhưng khi cần cài đặt thêm nhiều chương trình khác sẽ không chạy như kết nối modem, các công cụ của Creative.
Tôi bắt đầu tìm đọc lại qua rất nhiền website trên mạng, thử nghiệm lại mới viết lại toàn bộ bài ấy cho thật đúng hơn khi bạn đọc có nhu cầu ( nhất là ở nhà có mở internet công cộng).


 

Những điểm chưa đúng ở bài cũ trước đây:
A) Điểm đầu tiên chưa thật chính xác ở bài cũ là tác giả khuyên dùng ngay sysprep ở trên bất cứ máy tính đang chạy XP. Trong trường hợp máy này có sẵn card sound, modem, card màn hình đều riêng và nếu làm Sysprep để chạy trên các máy khác sound on board sẽ tạo ra quá nhiều bị rác rến do driver thừa thãi quá nhiều, hay khác nhau như chipset Sis hay Intel .. trong WinXP này dù là không cần đến, đều có thể gây xung đột sau này.
Do vậy, muốn làm Ghost XP chạy cho nhiều máy cấu hình khác nhau, bạn phải chuẩn bị trước: Không phải làm trên bất kỳ máy nào mà tốt là nên làm Sys prep trên máy chưa gắn bất cứ card PCI nào ( sound modem , TV card.. ) . Như thế, khi reboot máy lại nó sẽ cập nhật lại dễ dàng các driver thêm vào ở các Slot PCI như card sound hay card màn hình
B) Điểm sai thứ hai là trong các mục License agreement khi chạy file setupmgr.exe , tác giả lại nói chọn yes , fully automate là sai, phải chọn là not, not fully automate.
Vì như thế khi phần đặt tên name mới để trống, dành riêng cho Sysprep làm việc được . Nếu không, tên này khó thay đồi tuỳ theo máy khác nhau được .
C) Điểm sai thứ ba trong bài ấy mục 3 là nói phải để đĩa CD sẵn có chương trình ghost vào và mới chạy sysprep.exe.
Điều này khiến nhiều người hiểu sai, là có thể chạy sysprep.exe ngay trong DOS được, mà thật ra nó chỉ chay được trong windows mà thôi.
Do vậy phải chỉnh lại bước làm việc thật đúng như sau: Phải chạy file sysprep.exe ngay trong XP rồi sau khi xong, mới để đĩa CD có Ghost như Hiren bootCD 80 có ghost để sao lưu lại ổ C.
Cách làm thật đúng ra file ghost để cho nhiều máy có cấu hình khác nhau :
Do có 3 điểm sai khá quan trọng như đã nêu trên, tôi thấy cần phải lập lại từng bước thật chính xác cho việc làm ra file ghost XP chạy trên nhiều máy có cấu hình khác nhau như sau:
A) Bước 1 : bạn phải chuẩn bị cho bước này thật đúng như sau:
1) Bạn phải chuẩn bị làm ở trên máy đơn giản chỉ xài sound và card màn hình on board. Cài XP fresh với CD installed XPSP2 trên một ổ C format qua NTFS( cần bảo vệ mật nhưng thường không cần thiết ) hay FAT 32 tuỳ ý( nhưng dùng FAT 32 cứu hộ sau này bằng ghost sau này ở môi trường DOS rõ ràng dễ hơn.
2) Sau khi cài xong XP( chưa cài đặt thêm driver nào cả) , vào trong XP đầu tiên mới dùng đĩa cài đặt XP tìm ra thư mục SUPPORTTOOLS để ồ giải nén toàn bộ file deploy.cab ra thư mục SYSPREP ở C có XP.
3) Trong thư mục Sysprep này, ta sẽ tìm ra file setupmgr.exe chạy nhằm tạo ra tạo ra tập tin giúp cài XP tự động sau này ( unattended ) . ấn next và ở mục Create a new answer file, chúng ta sẽ chọn mục 2 Sysprep setup.
ở product , chọn bản XP professional và ở phần License Agreement screen chọn No, do not fully automate the installation, ấn next..
4) Bây giờ nó yêu cầu bạn điền mọi thông tin cho nó biết. Lưu ý ở các phần:
a) General settings :
- Name and organization, phần name để trống( dành cho Sysprep làm việc sau này),
- Organization: home. Aán next.
- ở Display settings: chọn 3 mục vào Use windows defaults,
- Time zone: nên chọn vào GMT+7 Hanoi Djakarta.
- Product Key: Điền các ô CD key hợp lệ cho XPSP2 .
b) ở Network settings :
- Computer Name chọn nút kiểm Automatically generated computer name
- Administrator: chọn nút kiểm prompt the end user for administrator password
- Networks components chọn vào Typical settings
- Workgroup : chọn vào Workgroup .
c) Advanced settings:
- Telephone: Country Vietnam, các ô khác để trống.
- Regional setting: Chọn vào use the default regional setting
- Các mục còn lại của Advanced settings như install printer, run one, Additional commands và Indentification string, ấn next để bỏ ra
5) Một cửa sổ sau cùng hiện ra, hỏi chúng ta muốn lưu ở đâu: file sysprep.inf ở ổồ C :SYSPREP và ấn OK.
6) ở cửa sổ setup manager, chọn file và exit. Thoát khỏi chương trình.
B ) Bước 2 : Không phải là để đĩa CD có Ghost vào mà bắt đầu trong XP chạy sysprep.exe trong thư mục C:SYSPREP
1) ở cứa sổ đầu tiên System Preparation Tool, chọn vào nút kiểm Minisetup, Don?t regenerate security indentifier và Detect non plug and play . Trong mục shutdown mode chọn Reboot và ấn vào bên phải nút Reseal .
b) Sysprep bắt đầu chuẩn bị mọi thứ cho việc chạy minisetup và cập nhật driver sau này. Reboot máy lại.
3) Bước 3: Bây giờ mới chọn first boot device CDROM và để đĩa CD có ghost như Hiren 80 vào mà bắt đầu làm file ghost để chạy cho nhiều máy. Khi để vào máy khác bằng ghost này nhờ có Syspsprep.inf và cấu hình chạy minisetup sẳn nó sẽ tạo lập XP theo cấu hình mới theo như mong muốn. Có điều bạn phải thủ sẳn đĩa cài đặt WìnXPSP vì chắc chắn nó sẽ hỏi đĩa này ở đâu để cập nhật lại mọi driver của phần cứng.
IV) Kết luận: Dù là chúng ta có thể làm file ghost XP cho nhiều máy cấu hình khác nhau nhưng cũng không thể quá khác nhau như dùng mainboard PentiumIII và Pentium IV nhằm tránh xung đột vẫn có .
Các bạn cũng không nên thu nhỏ XP bằng Nlite như thế sau khi restore lại bằng Ghost sẽ không cài được nhiều chương trình khác nhau trong máy mới.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Tạo đĩa cài Windows XP cho laptop sử dụng ổ cứng SATA


Ổ cứng chuẩn SATA ngày nay được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến, nhưng tình trạng cài Windows XP từ những đĩa bình thường sẽ xảy ra hiện tượng đĩa CD không nhận ra ổ cứng. Vấn đề cốt lõi ở đây là các đĩa đó chưa được tích hợp driver ICH9 mới để nhận dạng ổ cứng trong quá trình cài đặt, bài viết sau sẽ hướng dẫn các bạn cách tích hợp thêm chuẩn ICH9 vào 1 đĩa cài Windows XP bình thường.

Hiện tượng màn hình xanh (dump) cũng xảy ra khi các bạn chuyển ổ cứng từ chuẩn ATA thành SATA trong BIOS khi mà hệ điều hành Windows chưa có driver hỗ trợ.

Đầu tiên, các bạn cần chuẩn bị:

- Phần mềm nLite phiên bản mới nhất 1.4.9.1

- Driver ICH 7 8 9 10 dành cho SATA

- 1 phân vùng ổ cứng để tiến hành (dung lượng vừa phải < 1 Gb)

Sử dụng nLite

- Giao diện chính của nLite sau khi khởi động:

 - Bước tiếp theo, chỉ đường dẫn đến thư mục, ổ đĩa chứa bộ cài Windows (copy từ đĩa cài Windows chưa tích hợp driver), trong ví dụ này là ổ O

 - Sau khi chọn đúng nơi lưu trữ, nLite sẽ hiển thị thông tin cụ thể về bản Windows này. Bấm Next để chuyển sang bước tiếp theo:

 - Cửa sổ tiếp theo hiện ra, bạn chọn DriversBootable ISO để bắt đầu tiến hành tích hợp driver, và tạo file khởi động iso:

 - Tại bước tiếp theo, bấm Insert để thêm driver, sẽ có 2 sự lựa chọn: Single driverMultiple driverfolder:

 Các bạn có thể sử dụng bất cứ lựa chọn nào, sau đó chỉ đường dẫn đến thư mục chứa driver ICH (tải về máy và giải nén):

 - Trong ví dụ này chọn Single driver và chỉ đường dẫn đến thư mục lưu driver, chọn file iaAHCI.infOpen:

 - Cửa sổ tiếp theo, chọn Regular PNP driver để lựa chọn tất cả các driver mà file iaAHCI.inf chứa đựng, hoặc bạn có thể chọn Textmode driver để thêm từng driver riêng biệt. Nhấn OK để chuyển sang bước tiếp theo:

 - Kiểm tra lại 1 lần nữa thông tin của driver, khi đã chắc chắn bạn bấm Next để chuyển tiếp:

 - Hộp thoại thông báo Apply changes hiện ra, bấm Yes để bắt đầu tích hợp driver:

- Sau khi kết thúc quá trình, nLite sẽ hiển thị đầy đủ thông tin dung lượng bộ cài đĩa, driver đã được thêm vào. Bước tiếp theo, sẽ có các lựa chọn nếu bạn muốn ghi trực tiếp ra đĩa, tạo file ISO. Để chắc chắn, ta nên tạo thành file ISO rồi từ đó ghi vào đĩa để đảm bảo không xảy ra lỗi:

 - Sau đó chọn đường dẫn lưu file ISO:

 - Vậy là bạn đã hoàn thành xong các bước cơ bản để tích hợp thêm driver vào đĩa cài Windows. Trên đây là bài hướng dẫn cơ bản để thêm driver nhận dạng chuẩn SATA, tùy theo yêu cầu mà các bạn có thể tích hợp thêm các loại driver khác như VGA, sound, NIC...

- Việc còn lại là ghi file ISO đó ra đĩa CD, và tiến hành cài đặt như bình thường. 


Chúc bạn thành công!

Mẹo tăng tốc độ xử lý cho máy tính

Cho dù chiếc máy tính của bạn có cấu hình mạnh tới đâu thì chắc chắn rằng bạn vẫn không ít lần phàn nàn về hoạt động như rùa bò của nó. Bài viết này xin giới thiệu một thủ thuật giúp bạn cải thiện hiệu năng của bộ vi xử lý (chip)…

Thủ thuật này tỏ ra rất hữu dụng với những người sử dụng máy tính với cấu hình yếu và tốc độ xử lý của chip kém. Để tăng tốc cho chiếc PC chậm chạp của mình, người dùng có thể “tổ chức” cho hệ thống được rảnh rỗi hơn bằng cách ngừng hoạt động của các tác vụ nhàn rỗi vẫn luôn chạy thường trực làm ảnh hưởng tới tốc độ xử lý chung của chip. Khi bạn đã thực hiện được việc tắt những ứng dụng không cần thiết này, chiếc PC của bạn sẽ có cơ hội “hiến dâng” toàn bộ sức lực ít ỏi vốn có cho những công việc mà bạn thực sự muốn hoạt động một cách nhanh chóng nhất.
Mời các bạn làm theo bước sau đây để thực hiện việc dừng hoạt động của những ứng dụng nhàn rỗi.
Đầu tiên, bạn cần đăng nhập vào hệ thống của mình với quyền quản trị cao nhất (administrator mode).
Nhấn chuột vào nút “Start” và di tới lựa chọn “Run”
Trong hộp thoại của lựa chọn “Run” bạn gõ dòng lệnh sau:

Rundll32.exe advapi32.dll,ProcessIdleTasks.
Sau đó nhấn OK và hệ thống của bạn sẽ tự động trong công việc nhận dạng, những ứng dụng không cần thiết thường xuyên nhàn rỗi và kết thúc hoạt động của chúng.

Để có một bản Ghost nhẹ nhất

Ghost máy là một việc hầu như ai ai cũng biết. Nhưng với một bộ windows full hoặc được nhét đầy phần mềm vào đó thì sau khi ghost lại thì dung lượng của nó cũng là một vấn đề đáng nói. Vậy làm thế nào để giảm tối đa dung lượng bản ghost lại, hãy đọc bài viết tổng hợp sau đây để có một bản ghost nhẹ như ý muốn, đồng thời sẽ tiết kiệm được thời gian trong khi ghost và dung lượng cho ổ cứng bạn.

I. System Restore là chức năng sao lưu-phục hổi hệ thống có sẵn trong bản windows. Chức năng này hiện nay rất ít dùng, nếu để nó hoạt động thì nó tiêu tốn khá nhiều dung lượng ổ cứng.

- Đối với XP bạn làm theo cách sau: Cick phải vào My ComputerRestore -> chọn Turn Off System
- Đối với Vista:
- Nhấn Start.
- Nhấn chuột phải trên biểu tượng Computer, và nhấn chọn Properties.
- Nhấn lên System Protection dươi cột Tasks ở phía bên trái.
- Nhấn vào Continue ở cửa sổ “User Account Control” được hiện lên.
- Ở trong System Protection tab, tìm Available Disks
- Bỏ chọn tick tại những ổ cứng bạn muốn tắt System Restore.
- Khi tắt chế độ System Restore, các điểm nhớ trước đó sẽ bị xoá. Nhấn “Turn System Restore Off” trong cửa sổ được hiện ra để làm việc đó.
- Nhấn OK.
- Bật trở lại System Restore bằng các bước như trên bằng cách chọn ở mục 6 những ổ cứng cần kích hoạt chế độ này.

II. Xóa các file có trong thư mục Prefetch của Windows. Mặc định đường dẫn là C:\WINDOWS\Prefetch.

III. Backup dllcache:

Dllcache là nơi dự trữ các tập tin của hệ thống, nếu có sự cố như lỗi file, thiếu file hay bị virus ” xơi” một số tập tin quan trọng thìwindows sẽ tự động phục hồi lại các tập tin dự trữ trong thư mục dllcache có trong system32 ( C:\WINDOWS\system32\dllcache ). Việc xóa các tập tin trong thư mục này sẽ khiến máy bạn gặp trục trặc khi các sự cố nói trên hoặc tương tự. Cách tốt nhất mà áp dụng là backup tất cả các file trong thư mục dllcache lại vào một tập tin duy nhất. Đó là bạn sử dụng tool dllcache backup. Công cụ này rất hay, nó sẽ tự động backup các file trong thư mục dllcache vào một tập tin duy nhất có dạng là mở rộng là .txt, thay vì 400MB có trong thư mục dllcache thì nó backup lại chỉ còn tập 85-90kb. Cách này cũng được sử dụng trong việc làmghost all main hiện nay.
[ Download Dllcache Tool]

IV. Xóa rác, registy, cookie…

Cách này bạn có thể thực hiện bằng tay hoặc dùng phần mềm. Nhưng tốt nhất là bạn nên sử dụng phần mềm cho nó nhanh gọn. Các phần mềm bạn có thể sử dụng như CClean, Your Unistaller, Super Cleaner…( tôi thường sử dụng 3 chương trình đó).

V. Dùng nite để ” dọn” các thành phần không quan trọng trong windows trước khi tạo bộ cài đặt windows hoặc nếu cài windows rồi thì bạn dùng XPLite để giảm béo.

VI. Tắt chế độ ngủ đông ( nếu có bật):

Start -> Ctrol Panel -> Power Options -> Tab Hibernate -> Disable Hibernate

VII. Nén tập tin ghost lại với tỉ lệ nén cao nhất:

Thông thường thì các bạn ít để ý đến cách này, nhưng thật sự nó nén bản ghost của bạn đến mức tối đa nhất có thể, cách làm đơn giản bằng cách sử dụng Hirens Boot : Boot CD Hirens Boot – > Next -> Dos -> Dos. Tại dòng lệnh A:\ bạn gõ thêmghost -Z9 : đường dẫn đầy đủ là: A:\ghost -z9. Cuối cùng ra chương trình ghost , các bước tiếp theo bạn làm bình thường và nếu có thông báo xuất hiện rằng bạn muốn nén dữ liệu mức tối đa không thì bạn nhấn Yes. vào Propeties -> Tab System Restore on all dirver -> Apply->OK.

Lỗi “NTLDR is Missing”

Có nhiều cách khác nhau để thông báo lỗi mất file NTLDR, thông thường như sau:

- "NTLDR is missing
Press any key to restart
"

- "NTLDR is missing
Press Ctrl Alt Del to restart
"

- "Boot: Couldn't find NTLDR
Please insert another disk
"

Lỗi "NTLDR is missing” xuất hiện không lâu sau khi khởi động máy. Windows XP chỉ mới bắt đầu load thì thông báo lỗi xuất hiện.

Nguyên nhân
Có nhiều khả năng gây ra lỗi NTLDR. Lý do phổ biến nhất là khi máy tính đang boot từ ổ cứng hay ổ flash gắn ngoài mà lại không được định dạng chính xác. Điều này cũng có thể xảy ra nếu bạn boot từ ổ quang (CD Rom) hay ổ đĩa mềm.

Các khả năng khác bao gồm hỏng file hệ thống, vấn đề với ổ cứng và hệ điều hành, BIOS quá hạn (hết pin CMOS), cáp IDE bị hỏng…Lỗi này chỉ xảy ra cho hệ điều hành Windows XP, bao gồm Windows XP ProfessionalWindows XP Home Edition. Windows Vista không sử dụng NTLDR.

Khắc phục
1. Khởi động lại máy.

2. Kiểm tra ổ đĩa cứng và ổ quang.

Nếu bạn thấy đây là nguyên nhân của vấn đề, bạn có thể cân nhắc thay đổi lệnh boot trong BIOS. (thay đổi để máy tính khởi động từ ổ cứng hay từ CDRom, tùy trường hợp).

3. Kiểm tra ổ cứng và các thiết lập trong BIOS.

4. Khôi phục NTLDR và file ntdetect.com từ đĩa cài đặt Windows XP.

5. Tạo phân vùng boot mới trong Windows XP.

6. Mở case của máy tính ra và kiểm tra xem các dây nối ổ cứng tới mạch chủ có đúng không. Nếu không giải quyết được thì thay dây mới và thử lại.

7. Update BIOS của mainboard.

8. Cài lại Windows XP. Việc này sẽ xóa hoàn toàn Windows XP trong máy bạn và cài lại. Dù nó sẽ giải quyết hầu hết lỗi NTLDR, nhưng bạn nên nhớ phải sao lưu lại những dữ liệu quan trọng trước khi tiến hành (tháo ổ cứng gắn vào máy tính khác để sao lưu).

9. Nếu mọi cách đều thất bại, có thể bạn đang có vấn đề với ổ cứng. Hãy thay ổ cứng và cài mới Windows XP.

Vô hiệu hóa pop-up quảng cáo của Avira


Hoạt động Avira đưa ra các pop-up quảng cáo thường dựa vào việc truy cập vào file avnotify.exe, do đó, để vô hiệu hóa việc truy cập này ta phải tác động tới file avnotify.exe.

Thông thường, mọi người thường nghĩ tới giải pháp thay đổi tên của file avnotify.exe, tuy nhiên trong trường hợp này việc thay đổi tên không có tác dụng bởi khi Avira chạy thành phần cập nhật virus, avnotify.exe sẽ tự động được thay thế nếu chương trình thấy thiếu file. Do đó cần phải khóa việc truy cập vào file này thay vì thay đổi tên file như thông thường.

Windows XP Home

- Khởi động máy trong chế độ Safe Mode (nhấn F8 sau khi bật máy để ra menu lựa chọn)

- Truy cập vào tài khoản với quyền quản trị viên

- Vào thư mục chứa chương trình Avira cài đặt trên máy

- Kích chuột phải vào file avnotify.exe và chọn Properties

- Kích vào Edit > Traverse Folder/Execute File > Deny > OK

- Khởi động lại máy tính

Windows XP Professional

- Vào Start chọn Run

- Nhập gpedit.msc

- Điều hướng vào phần User Configuration > Administrative Templates > System

- Kích đúp vào Don't run specified Windows applications

- Enable và kích vào Show

- Add file avnotify.exe vào và kích OK

Windows Vista và Windows 7

- Vào thư mục chương trình Avira

- Kích chuột phải vào file avnotify.exe và chọn Properties

- Trên tab Security, chọn SYSTEM và kích Edit

- Tích chọn phần Read & Execute trong cột Deny và kích OK


Các phương thức trên chỉ là phương pháp tạm thời để loại bỏ quảng cáo từ Avira. Để hoàn toàn không phải nhận những quảng cáo phiền phức này, bạn có thể cài đặt sử dụng Security Essentials của Microsoft mới được phát hành. Chương trình này hoàn toàn miễn phí và đặc biệt nó là chương trình tương thích với hệ điều hànhWindows bạn đang sử dụng.

Share Permission

Việc chia sẻ các tài nguyên trên mạng là điều không thể thiếu trong bất kỳ hệ thống mạng nào, tuy nhiên việc chia sẻ này còn tùy thuộc vào nhu cầu người sử dụng & ý đồ của nhà quản trị mạng, ví dụ trong công ty chúng ta có nhiều phòng ban và các phòng ban trong công ty có nhu cầu chia sẻ tài nguyên cho nhau tuy nhiên nhà quản trị mạng muốn không phải phòng ban nào cũng có thể truy cập vô tư các dữ liệu của phòng ban khác.
Chẳng hạn các nhân viên trong phòng kinh doanh thì có thể truy cập dữ liệu của phòng mình và phòng kỹ thuật thoải mái, nhưng với các nhân viên trong phòng kỹ thuật chỉ được phép truy cập tài nguyên trong phòng mình mà thôi và không được phép truy cập các tài liệu từ phòng kinh doanh. Tính năng Sharing and Sercurity.. sẽ giúp ta giải quyết các yêu cầu trên.
Trong windows server 2003
Để chia sẻ một tài nguyên nào đó bạn nhấp chuột phải vào thư mục cần share chọn Sharing and Sercurity…
Nhấp chọn mục check Share this folder
Ở ô Share Name máy sẽ tự lấy tên default là tên thư mục hiện hành bạn có thể chỉnh sửa tên này tùy ý bạn
Để phân quyền cho User truy cập bạn click chọn mục Permission
Trong này bạn có thể giới hạn quyền cho từng group hoặc user với các quyền được giới hạn bời các mục Allow & Deny
Với các tùy chọn là Allow: User có quyền truy cập tài nguyên với quyền hạn tương ứng
Với các tùy chọn là Deny: User không có quyền truy cập tài nguyên với quyền hạn tương ứng
Trong ví dụ này Group User đã bị tôi giới hạn tối đa (Deny tất cả các quyền Read, Change, Full Control…) nghĩa là group này không có quyền truy xuất tài nguyên từ thư mục tôi Share
Để tạo một thư mục mà không muốn cho ai thấy (chỉ có gõ lệnh mới vào được) thỉ bạn thêm dấu $ vào ngay sau Share Name của mình
VD: Máy tôi có IP là 192.168.1.3 và thư mục Share có tên là hidden$
Khi đó tôi truy cập từ máy khác vào phải nhập là \\192.168.1.3\hidden$ thì mới vào được
Để tránh phải mất công nhập dòng lệnh \\[IP máy tới]\[thư mục share] chúng ta có thể ánh xạ ổ đĩa đối với các thư mục Share thường xuyên truy cập bằng cách nhấp phải vào thư mục cần Share cần ánh xạ và chọn Map Network Drive…
Trong cửa sổ Map Nerwork Drive hiện ra bạn chọn tên ổ đĩa ánh xạ và click Finish
Bây giờ bạn vào My Computer sẽ thấy xuất hiện thêm ổ đĩa mới (Ổ đĩa ánh xạ) Nhấp vào đấy sẽ đi đến ngay thư mục mà bạn vừa ánh xạ.
Trong Windows Vista:
Trước tiên bạn vào My Computer chọn Organize chọn tiếp Folder and Search Options
Sau đó nhấp chọn tab View cuộn xuống dưới bỏ dấu check mục User Sharing Wizard đi
Để Share một thư mục bạn nhấp phải vào thư cần Share chọn Share
Click vào nút Advanced Sharing…
Và click chọn Permission nếu muốn phân quyền cho thư mục share…
Trần Thanh Long